Sunday, May 13, 2007

New Blog Address

Tôi đã chuyển địa chỉ blog sang chỗ này http://hoangtq.wordpress.com/

Trang blog này thiếu những chức năng cho phép tôi phân loại bài vở theo những chủ đề khác nhau để người đọc dễ theo dõi và chọn bài.

Friday, May 11, 2007

Save the Darfur Puppy

The New York Times là tờ nhật báo có uy tín nhất và có số độc giả thuộc tầng lớp trí thức nhiều nhất ở Mỹ. Nhưng chính vì nhắm vào đối tượng độc giả trí thức nên nó không phải là tờ báo có số lượng phát hành nhiều nhất. Xét về số lượng phát hành, tờ NYT đứng thứ 3, sau hai tờ USA Today Wall Street Journal.

Để khuyến khích sinh viên đại học đọc báo cập nhật tin tức đồng thời nâng cao kỹ năng đọc hiểu, hai tờ New York TimesUSA Today cung cấp cho sinh viên các trường đại học Mỹ các số báo của nó miễn phí. Ở trường tôi, tại những địa điểm được nhiều sinh viên qua lại như trước thư viện hay gần khu vực canteen đều có một hộp báo, bên trong là hai chồng báo, USA Today một bên và NY Times một bên. Sinh viên nào muốn đọc phải dùng thẻ sinh viên của mình để mở hộp lấy báo. Cứ đi ngang các thùng báo này khoảng 12 giờ trưa là tôi thấy số báo NY Times hết sạch trong khi số báo của tờ USA Today vẫn luôn còn. Vì tờ USA Today thuộc dạng báo khá là “lá cải”, màu sắc lòe loẹt và có nhiều bài tường thuật về các ngôi sao điện ảnh, ca nhạc, thể thao nên không được giới sinh viên ưa chuộng. Đối tượng đọc tờ USA Today chủ yếu là sinh viên undergrad. Trí tuệ hơn, bọn sinh viên grad tụi tôi thường chỉ đọc tờ NYT.

Tờ NY Times gồm có 2 phần, nửa phần đầu dành đăng các thông tin quốc tế và nửa sau dành cho thông tin nước Mỹ. Hai trang kế cuối là nơi đăng các bài xã luận, ‎ý kiến bạn đọc và các bài phân tích, phê bình (opinion-editorial) của những nhà báo kỳ cựu và uy tín của tờ báo. Gặp lúc bận rộn, tôi thường xem lướt qua các mục thông tin quốc tế và thông tin nước Mỹ nhưng không bao giờ bỏ qua các bài op-ed. Mặc dù đã biết những người phụ trách chuyên mục op-ed (columnist) đều là những nhà báo và học giả sừng sỏ (như Paul Krugman, giáo sư kinh tế trường Princeton), tôi vẫn không khỏi ngạc nhiên trước chất lượng của các bài op-ed. Với tổng số columnist là 7 người, trung bình mỗi một columnist phải viết 2 bài/tuần, vậy mà chất lượng các bài viết vẫn được duy trì ở mức độ rất đáng nể. Hầu như trong tất cả các số báo tôi đều học được nhiều ‎ý tưởng hay và sâu sắc qua những bài op-ed này.

Tôi thử giới thiệu dưới đây một bài op-ed của Nicholas D. Kristof đăng trên NYT ngày
9-5-2007. Bài viết hay, nhiều kiến thức, nội dung và phong cách bài viết rất tiêu biểu cho chủ đề phê bình chính trị-xã hội mà Kristof phụ trách. Tôi lượt bỏ một vài đoạn (vì lười và vì chúng hơi “khó dịch”) mà không làm ảnh hưởng nhiều đến nội dung bài viết.


Wednesday, May 09, 2007

Cứu Chú Cún Con Dafur

Nicholas D. Kristof
The New York Times

Cuối cùng, chúng ta cũng bắt đầu hiểu được muốn khích động Tổng thống Bush, những nhà lãnh đạo chính trị và công chúng Mỹ để họ ra tay can thiệp vào nạn diệt chủng ở Sudan thì ta phải làm gì: cần một chú cún con với cặp mắt to và đôi tai mượt.

Đó là bài học rút ra được từ một loạt các công trình nghiên cứu tâm lý học được thực hiện nhằm tìm hiểu tại sao những con người tốt bụng và có lương tâm lại không động lòng trước nạn diệt chủng hay nạn đói xảy ra trên thế giới. Rất nhiều lần chúng ta đã từng chứng kiến lương tâm con người không hề cắn rứt trước sự sau khổ của hàng trăm ngàn người nhưng lại xúc động và đau khổ chỉ vì một đứa trẻ (hay một chú cún con) đang gặp nạn.

Trong một thí nghiệm, các nhà tâm lý học yêu cầu những người dân thường đóng góp $5 để cứu giúp những nạn nhân đói khát ở nước ngoài qua 3 tình huống sau: (1) đóng tiền cứu giúp một cô bé 7 tuổi tên Rokia sống ở Mali; (2) đóng tiền cứu giúp 21 triệu người dân châu Phi đang đói; (3) đóng tiền cứu giúp cô bé Rokia nhưng lần này cô bé Rokia không phải là một cá nhân riêng lẽ mà là một trong số hàng triệu người đói khát trên toàn cầu.

Kết quả không có gì ngạc nhiên: những người tham gia ít sẵn lòng bỏ tiền ra giúp hàng triệu những con người đói khát mà họ không biết là ai, tên gì, sống ở đâu hơn là giúp cô bé Rokia 7 tuổi sống ở Mali. Nhưng trong trường hợp (3) mặc dù biết rõ tên tuổi, danh tánh của người cần giúp đỡ nhưng họ cũng không sẵn lòng giúp đỡ vì trong trường hợp này sự đau khổ của Rokia được xem là một phần của một vấn nạn to lớn, phức tạp hơn trên toàn cầu.

Có nhiều bằng chứng thuyết phục cho thấy con người phản ứng trước nỗi khổ của một cá nhân hơn là của một tập thể. […] Thậm chí một con vật dễ thương nào đó cũng có thể gây ra một phản ứng tương tự nơi con người. Một chú chó bị mắc kẹt trên một chiếc tàu làm khuấy động con tim của bao dân Mỹ đến mức $48,000 tiền túi riêng đã được quyên góp để cứu chú chó. Sau khi tôi đến thăm Darfur vào năm 2004, tôi hoàn toàn không hiểu được cảm xúc của công chúng Mỹ khi nỗ lực cứu một chú diều hâu đuôi đỏ, tên Pale Male, vì chú bị đuổi ra khỏi tổ của mình ở Fifth Avenue ở New York. Một con diều hâu không nơi nương tựa có thể khiến công chúng Mỹ phẫn nộ nhiều hơn là 2 triệu người Sudan trong cảnh màn trời chiếu đất? Tôi thật không hiểu.

Những nhà hoạt động giúp người nghèo thường thích trích dẫn con số 30,000 trẻ em trên thế giới tử vong hàng ngày do hậu quả của nghèo, đói vì họ cho rằng con số này sẽ là cú sốc khiến nhân loại phải có phản ứng. Nhưng ngược với sự mong đợi của họ, con số nạn nhân càng lớn, số người động lòng trắc ẩn càng ít.

Trong một thí nghiệm tâm lý học khác, 1 nhóm người được mời gọi gây quỹ $300,000 để trang trải viện phí cứu sống một em bé và 1 nhóm khác cũng có mục tiêu tương tự nhưng để cứu sống tính mạng của 8 em bé. Kết quả: tiền đóng góp cứu 1 em bé nhiều gấp đôi số tiền quyên được để cứu 8 em bé.

“Khả năng cảm xúc của chúng ta có giới hạn,” theo lời giáo sư Paul Slovic thuộc ĐH Oregon, tác giả của bài nghiên cứu “Psychic Numbing and Genocide” trong đó ông mô tả tất cả những thí nghiệm nêu trên. Giáo sư Slovic lập luận rằng chúng ta không thể trông đợi vào phẩm chất đạo đức bẩm sinh của ngay cả những con người tốt. Thay vào đó chúng ta cần có những cơ chế chính trị và pháp lý để có biện pháp đối phó với nạn diệt chủng.

[…] Nhưng thật tình mà nói, sau 4 năm chứng kiến Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc, Toà án Tội phạm Quốc tế (International Criminal Court) và Công ước Ngăn ngừa và Trừng phạt Tội ác Diệt chủng (Genocide Convention) không có mấy hiệu lực trước vấn nạn ở Darfur, tôi hoài nghi không biết liệu khả năng duy lý của con người (human rationality) và luật pháp quốc tế có thể làm được gì nếu không có được sự ủng hộ của công luận.

Có một thí nghiệm chứng minh cho thấy giới hạn của khả năng duy lý của con người. Những người tham gia thí nghiệm được yêu cầu đóng góp tiền giúp người nghèo nhưng trước khi đóng góp họ được chia làm 2 nhóm. Một nhóm được yêu cầu thảo luận về đề tài trẻ em (để khơi dậy cảm xúc của họ) và nhóm kia được yêu cầu thực hiện các phép tính toán học (để khơi dậy khía cạnh duy lý). Kết quả: những người làm toán quyên góp ít tiền hơn.

Có lẽ cái mà chúng ta cần không phải là nhiều luật pháp tốt hơn (better laws) mà là nhiều lương tâm biết xúc động hơn— những lương tâm bị cắn rứt vì hình ảnh một chú cún con tên Darfur với đôi mắt to và đôi tai mượt. Một khi chúng ta tìm thấy một chú chó đáng thương như vậy đang gặp nạn, chúng ta nên gọi điện thoại cho hãng tin ABC. Khả năng đánh giá thông tin của hãng ABC đã được thể hiện rõ qua việc hãng dành tổng cộng 11 phút trong bản tin tối để tường thuật về nạn diệt chủng ở Darfur trong nguyên cả năm qua — so với 23 phút tường thuật sự kiện kẻ sát nhân giả mạo trong vụ án liên quan đến cái chết bé gái JonBenet Ramsey.

Nếu như Tổng thống Bush và công chúng toàn cầu không động lòng trước thảm cảnh chết chóc của hàng trăm ngàn người đồng loại, có lẽ hy vọng sót lại cuối cùng của chúng ta là lương tâm chúng ta sẽ bừng tỉnh trước cảnh một chú chó con đang gặp nạn.

Good Question, Vietnam

Mark Ashwill, hiện đang điều hành trung tâm IIE tại Hà Nội từng là giảng viên khoa Giáo dục Tổng quát tại trường Ðại học bang New York, thành phố Buffalo. Ông là người có nhiều thiện chí muốn giúp đỡ nhân dân Việt Nam, Lào và Cambodia. Ông đã thành lập Tổ chức Giáo dục Mỹ-Ðông Dương, một tổ chức phi lợi nhuận và phi chính phủ, với mục đích giúp đỡ sinh viên các nước Việt Nam, Lào, và Cambodia có cơ hội sang Mỹ du học nhằm góp phần xây dựng đất nước khi họ quay về. [Nghe nói cảm tình đặc biệt của ông dành cho người dân Việt Nam xuất phát từ một cuộc gặp gỡ giữa ông và một người con gái Hà Nội dễ thương nào đó.]

Vào năm 2005, khi đang còn giảng dạy ở trường đại học Buffalo, Ashwill có dự định xuất bản một cuốn sách song ngữ Anh-Việt trình bày một bức tranh tổng quát về lịch sử, văn hóa, xã hội nước Mỹ cho những đối tượng sinh viên, phụ huynh, và các nhà giáo VN quan tâm đến việc sang Mỹ hay gởi con sang Mỹ du học. Điều đặc biệt của cuốn sách, dự định sẽ có tựa đề FAQ About America (Frequently Asked Questions about America), là ở chỗ nó là tập hợp những bài viết ngắn khoảng 350 từ trở xuống để trả lời cho một câu hỏi cụ thể nào đó do một người Việt Nam đặt ra. Để thu thập những câu hỏi về nước Mỹ do người Việt đặt ra, Ashwill đã nhờ mạng lưới những sinh viên Việt Nam mà ông quen biết post thông tin về cuốn sách lên các diễn đàn trên mạng.

Tôi không biết tổng cộng số câu hỏi mà ông nhận được là bao nhiêu, nhưng danh sách các câu hỏi cuối cùng được đánh giá là có chất lượng và được dịch sang tiếng Anh để từ đó gởi cho các giáo sư Mỹ là 168 câu, chia theo các chủ đề kinh tế, lịch sử, chính trị, tôn giáo, giáo dục, chính sách đối ngoại v.v. Những người tham gia vào dự án này sẽ chọn một vài câu hỏi mà họ thích trong số danh sách 168 câu và viết bài trả lời.

Do số lượng các giáo sư Mỹ ở trường Buffalo đồng ý cộng tác để viết bài trả lời là khá ít ỏi, Ashwill đã “rủ rê” tôi tham gia vào dự án của ông. Nhờ vậy tôi có dịp xem qua 168 câu hỏi nói trên. Điều làm tôi khá bất ngờ là chất lượng của các câu hỏi. Chúng thật sự phản ánh sự hiểu biết và mối quan tâm của người đặt câu hỏi về nước Mỹ. Một số câu hỏi gần như “thách thức” người trả lời, chẳng hạn như “Why does America appear to be the major factor in almost every war?”, hay “I have learned America is a free country; what is the real freedom in this country?”. Tôi đoán đa số các câu hỏi được nêu ra bởi các du học sinh Việt Nam đang học ở Mỹ hoặc ở một nước ngoài nào đó, vì ta có thể thấy rõ điều này qua hai câu hỏi sau:

1. From what I learned from the recent public hearings of the National Commission on Terrorist Attacks Upon the United States in my PolSci class, Clinton administration's focus was on dealing with international terrorism, while Bush crew seems to have been interested in Saddam Hussein and his Iraq. Had it not been for the power switch from Clinton to Bush, do you think 9/11 could have been prevented and how, given the significant difference in their counter-terrorism policy?

2. The American model of democracy is not necessarily the only and the best one in the world. We have East Asian democratic models (Japan, Korea), Northern European (Norway, Denmark, Sweden) and many others. Notwithstanding that fact, most American people I meet tend to associate democracy with America and vice versa. To what should we attribute this 'symptom'?

Chính vì chất lượng của các câu hỏi mà tạp chí Harper’s Magazine trong số báo tháng 1-2005 đã đăng lại 20 câu hỏi có chọn lọc, dưới tiêu đề “Good question, Vietnam”. Ngoài phần thông tin về nguồn gốc các câu hỏi, tờ báo không đưa ra nhận xét hay bình luận gì thêm. Không biết ai là người chọn 20 câu hỏi này, nhưng đa số thể hiện thái độ khá là “thiếu thân thiện” với nước Mỹ. :)

Bạn có thể xem các câu hỏi này ở đây.

Về phần mình, tôi chọn 3 câu hỏi sau để trả lời:

1. Vietnam has a long history of respect towards teachers, while I hear that in America, students and teachers are often at the same level. Is that true? How do you explain it? And what impact does it have on the American education system?

2. What do American students learn about the Vietnam War? What is American history's view about the war?

3. How much of Native American culture remains in the present culture?

Câu hỏi thứ nhất đụng chạm đến mối “quan tâm nghề nghiệp” của tôi vì vậy tôi chọn nó.
Câu hỏi thứ 2 thì quá rõ ràng, là người Việt chẳng lẽ tôi lại không quan tâm muốn biết học sinh Mỹ học những gì về chiến tranh Việt Nam.
Câu thứ 3 là vì tôi được học và đọc một số sách liên quan đến văn hóa người da đỏ. (Hôm nào siêng tôi sẽ trình bày một quan điểm đúng đắn hơn về văn hóa người da đỏ. Vào thời điểm Columbus đến châu Mỹ, từ “man rợ” hay “mọi rợ” mà người người châu Âu da trắng dùng để mô tả ngừơi da đỏ có lẽ áp dụng cho chính họ thì thích hợp hơn).

Ba câu trả lời được viết bằng tiếng Anh nên tôi không dám post lên đây, sợ mọi người đọc thấy lung tung quá rồi … chạy mất dép.

Wednesday, May 02, 2007

Good news about a new blog

Sau một thời gian dài tưởng không đi tới đâu, cuối cùng anh bạn GS Computer Science ở trường tôi cũng đã tập hợp được thêm 4 người nữa tham gia xây dựng trang blog bàn luận, nghiên cứu các vấn đề kinh tế-xã hội. Hiện tại trang blog đang được xây dựng và chúng tôi đã upload lên một số các bài viết cũ của mình. Các bạn có thể ghé qua xem trang blog ở địa chỉ này:

http://www.procul.org/ideas/

Tạm thời trang web vẫn chưa có một cái tên chính thức và chúng tôi vẫn đang tìm
một cái tên có thể thể hiện đúng tinh thần của những người viết bài. Nếu bạn nghĩ ra được một cái tên gì mà bạn thích, xin để lại phản hồi ở phần comment cho chúng tôi biết.

Hiện tại "ngôi nhà" mới này vẫn còn khá xa lạ với chúng tôi và những bài đã được đưa lên toàn là các bài viết học thuật nghiêm túc. Hy vọng sau vài tuần (hay vài tháng :-), chúng tôi sẽ cảm thấy thoải mái hơn và sẽ cho ra những bài viết ngăn ngắn, nhẹ nhàng, và dễ đọc.

Thank you tất cả các bạn đã ghé đọc và bình luận trên blog của tôi. Trong thời gian qua tôi khá bận rộn vì phải chuẩn bị thi một kỳ thi quan trọng. Thi xong thì cảm thấy không còn năng lượng để làm chuyện việt lách linh tinh gì khác nữa. Cũng may là chỉ còn vài tuần nữa là đến hè. Hy vọng lúc đó tôi sẽ có nhiều thời gian rảnh tán dóc với các bạn nhiều hơn. :-)

Tuesday, May 01, 2007

Pearls before breakfast


Xem xong The Lives of Others tôi không thể không nghĩ đến bài “Pearls before Breakfast” đăng trên Washington Post Online ngày 8-7-07 - bài viết thành công nhất từ trước đến nay của nhà báo Gene Weingarten. Sau khi bài báo được đăng, tác giả đã nhận được trên một ngàn e-mail từ độc giả khắp nước Mỹ và một số nước khác như Canada, Israel, Pháp, v.v., trong đó có hơn 100 người thú nhận đã khóc khi đọc bài báo của ông. Vậy bài báo đó viết về cái gì và có liên quan gì đến bộ phim The Lives of Others?

Trước hết ta cần hiểu sơ qua về ý nghĩa của tựa đề bài báo. Thông thường, các nhà văn, nhà báo chọn lựa tựa đề cho bài viết hay tác phẩm của họ một cách rất cẩn thận vì (a) họ muốn thu hút sự chú ý của độc giả ngay từ cái nhìn đầu tiên, và (b) họ muốn thâu tóm toàn bộ ý tưởng chính yếu nhất của bài viết qua một vài từ ngắn gọn. Chọn tựa đề cho bài viết vì vậy là cả một nghệ thuật.

“Pearls before breakfast” có nguồn gốc từ câu thành ngữ tiếng Anh “to cast pearls before swine” nhưng đã được tác giả thay đổi đôi chút cho phù hợp với nội dung bài viết. “To cast pearls before swine” có nghĩa đen (thùi lùi) là “ném ngọc trước mặt lũ heo”. Dĩ nhiên, ngọc là vật trang sức đẹp và quí‎ giá, nếu ta đem đặt nó trước mặt đám con cháu họ Trư thì không thể có chút hy vọng chúng sẽ biết thưởng thức. Như vậy, câu thành ngữ tương đương trong tiếng Việt chúng ta là “đàn gảy tai trâu”, hay “đem bông hoa nhài cắm bãi phân trâu”, hay “đem hồng ngâm cho chuột vọc; đem hạt ngọc cho ngâu vầy”. [Thú thiệt, câu cuối tôi lấy từ tự điển tinhvan.com trên mạng chứ tôi cũng chưa từng biết bao giờ!] Hoàn toàn ngẫu nhiên câu thàng ngữ “đàn gảy tai trâu” lại mô tả chính xác nội dung bài báo. Vậy ai đem đàn đi gảy cho trâu nghe? Và ai là trâu ở đây?

“Pearls before breakfast” tường thuật lại một cuộc thử nghiệm được tờ Washing Post tiến hành tại Washington D.C vào lúc 7:51 sáng thứ 6 ngày 12 tháng 1 năm 2007 để trả lời những câu hỏi sau. Cải trang một nhà vĩ cầm danh tiếng nhất thế giới thành một nghệ sĩ đường phố và để nhà vĩ cầm biểu diễn những bản nhạc danh tiếng nhất thế giới trước khu vực nhà ga Metro nơi có hàng ngàn người ra vào mỗi buổi sáng thì chuyện gì sẽ xảy ra? Liệu anh ta có thể thu hút được bao nhiêu người dừng chân thưởng thức tiếng đàn vĩ cầm của mình? Liệu nhà vĩ cầm bậc thầy sẽ nhận được bao nhiêu tiền từ tấm lòng cảm kích của những người qua đường?

Không cần đọc tiếp nhưng dựa vào tựa đề của bài báo bạn chắc cũng có thể đoán được kết quả của cuộc thử nghiệm ra sao. “Pearls before Breakfast” mô tả câu chuyện nhà vĩ cầm danh tiếng Joshua Bell đem tiếng đàn điêu luyện của mình ra gảy cho đôi tai [trâu] của những người dân Washington vào giờ ăn điểm tâm sáng. Quá bận rộn lo lắng cho công việc, những con người bất hạnh này không thể chú tâm dù chỉ là giây lát để lắng nghe đến tiếng đàn vĩ cầm réo rắt và điêu luyện của Bell. Trong suốt 46 phút đứng trước bến xe điện ngầm và biểu diễn 6 bản nhạc cổ điển của những nhà soạn nhạc danh tiếng nhất thế giới–từ Bach cho đến Schubert cho đến Manuel Ponce và Jules Massenet–cho cả thảy 1,097 người đi qua, tổng cộng chỉ có 27 người chậm bước chân để ném tiền vào trong chiếc hộp anh để dưới đất (tổng cộng là $32 và vài đồng tiền lẽ), và có vỏn vẹn đúng 7 người thật sự dừng dân lại để nghe tiếng đàn của Bell trong 1 phút hoặc lâu hơn. Hơn một ngàn người còn lại không chậm bước chân mà thậm chí cũng chẳng buồn ngoái đầu để xem tiếng đàn xuất phát từ đâu ra và ai đang chơi đàn.

Cuộc thử nghiệm trên được tiến hành trước nhà ga L'Enfant Plaza và hầu hết những người sử dụng bến này là nhân viên văn phòng cấp bậc trung của chính phủ. Tức đa số là những người có học vấn và văn hóa. Trong số hơn một ngàn người đi qua, chỉ có duy nhất một người nhận ra Bell là ai. Bà ta dừng lại và đứng nghe Bell biểu diễn cho đến phút cuối. Sau đó khi được phóng viên báo Washington Post hỏi ý kiến, bà cho biết: "It was the most astonishing thing I've ever seen in Washington. Joshua Bell was standing there playing at rush hour, and people were not stopping, and not even looking, and some were flipping quarters at him! Quarters! I wouldn't do that to anybody. I was thinking, Omigosh, what kind of a city do I live in that this could happen?

Có quá nhiều điều bất ổn khi hơn một ngàn người đi qua mà chỉ có vài chục người để ‎ý đến tiếng đàn và người chơi đàn. Trong bài báo tác giả đã cố gắng trung lập hết mức khi đưa ra một vài giả thuyết để giải thích hiện tượng đáng buồn trên.

  1. Bối cảnh đóng vai trò rất quan trọng. Thời điểm và địa điểm cuộc thử nghiệm không phù hợp để thu hút người nghe. Giống như đem một bức danh họa treo trong một quán ăn bình dân và kỳ vọng mọi người chú ‎ đến nó, điều này là hoàn toàn không hợp l‎ý‎‎.
  2. Giả thuyết của Joshua Bell: những người qua đường cố tình không chú ý‎‎‎ nhìn đến anh vì không muốn cảm thấy lương tâm cắn rứt vì đã không cho người nghệ sĩ nghèo chút tiền. Họ không muốn có cảm giác như đang “trấn lột” anh.

Đa số ý‎‎‎ kiến của độc giả gởi cho tác giả bài viết xoay quanh lập luận #1 ở trên. Nghệ thuật cần được thưởng thức đúng nơi, đúng chỗ. Không phải ai cũng rành âm nhạc cổ điển và 7 giờ sáng là thời điểm mọi người đều bận rộn, đầu óc lo lắng, đó không phải là thời điểm phù hợp để làm thí nghiệm. Tuy nhiên, điều mà tác giả bài báo muốn nhấn mạnh không phải là trình độ thưởng thức âm nhạc cổ điển của người dân Mỹ. Điều khiến ông ta cảm thấy thật sự bất ổn qua cuộc thí nghiệm này là dân Washington (hay có thể là đại đa số dân Mỹ nói chung?) không có khả năng mở rộng đôi tai, đôi mắt và tâm hồn để đón nhận những gì thanh tao và đẹp đẽ nhất của cuộc sống.

Sau khi cuộc thử nghiệm kết thúc và ngồi xem lại cuộn băng ghi hình toàn bộ cuộc thí nghiệm, điều băn khoăn duy nhất còn lại của tác giả bài báo không phải là tại sao người qua đường không dừng chân thưởng thức tiếng đàn kỳ diệu của Bell, mà tại sao không mấy ai buồn ngoảnh mặt chú ‎ý đến tiếng đàn. Nói cách khác, câu hỏi đặt ra ở đây là, ngoại trừ một số nhỏ đang nghe nhạc trên máy IPOD hay đang đeo heaphone nói điện thoại, lỗ tai của một ngàn người còn lại có nghe được tiếng đàn của Bell không? Nếu họ có nghe tiếng nhạc, theo lẽ thường tình họ sẽ phải đưa mắt tìm kiếm người chơi đàn. L‎ý do nào họ khiến họ không đưa mắt nhìn Bell? Bell đưa ra lời giải thích của mình ở trên (#2) để l‎‎ý giải. Đáng tiếc là khi phóng viên báo Washington phỏng vấn những người đi ngang qua chỗ Bell đứng, không một ai đưa ra l‎ý do này để giải thích. Tất cả đều cho biết trong đầu họ đang bận tâm lo nghĩ và tính toán cho công việc. Chỉ còn một kết luận hợp lý cuối cùng: dân Washington quá bận tâm đến công việc, quá lo toan bận rộn đến các chi tiết cuộc sống cá nhân, quá chú trọng đến thế giới nội tâm bên trong đến mức không hề quan tâm đến những gì xảy ra xung quanh.

Nếu ta giả sử Bell đi sang một quốc gia nào đó ở Phi Châu nơi đang xảy ra một cuộc nội chiến đẫm máu và đứng gảy đàn tại một địa điểm đẫm máu nhất, xung quanh là đạn bay, bom nổ và hàng chục xác chết nằm la liệt thì ta có thể hiểu được nếu không một ai vây lại quanh anh để nghe tiếng đàn. Bản năng sinh tồn mạnh hơn bản năng hướng đến nghệ thuật. Nỗi sợ hãi trước cái chết ngăn không cho bước chân của con người tìm đến nghệ thuật. Nhưng ở Washington D.C không có bom, đạn và xác chết – xác ướp chắc cũng không có trong các viện bảo tàng ở Washington– vậy thì cái gì mạnh hơn nỗi sợ cái chết khiến người dân Washington không thể dừng chân hay ngoảnh đầu đón nhận thứ âm nhạc tinh tuý và kỳ diệu nhất của nhân loại? Họ còn sống hay là họ đã chết? Hay chính xác hơn là tâm hồn họ còn thức tỉnh hãy đã chết? Họ là những cái xác vô hồn, những bóng ma vật vờ trên đường phố?

Theo bộ phim The Lives of Others người chưa đánh mất hết lương tri và còn có thể cứu vãn là người vẫn còn quan tâm và biết xúc động trước cái đẹp của nghệ thuật và âm nhạc. Âm nhạc và nghệ thuật có khả năng đánh thức và cứu chữa những tâm hồn đui mù, què quặt vì đặc tính vĩnh cửu của nó, vượt qua biên giới của sự sống và cái chết (biên giới thời gian) và vượt qua tất cả những biên giới ràng buộc của thế giới vật chất (biên giới của không gian). Nếu như đang sống một cuộc sống vật chất đầy đủ nhất và văn minh nhất nhưng lại không có khả năng để lắng nghe (khoan nói đến chuyện thưởng thức) thứ âm nhạc kỳ diệu nhất được biểu diễn bởi một trong những tay đàn kỳ diệu nhất trên hành tinh, vậy ta sống vì cái gì? Ta đang theo đuổi những giá trị gì? Khái niệm chân, thiện, mỹ có còn chỗ đứng trong cuộc sống của ta? Có biết ta đang đâm đầu về đâu và đang trở thành cái gì?

~.~.~

1. Để hiểu tại sao có người lại khóc khi đọc bài báo trên, bạn cần đọc toàn bộ bản gốc bài báo tiếng Anh. Vài hàng tóm tắt và nhận xét của tôi cũng giống như tôi đang cố gắng giúp bạn hình dung ra hình dạng của một con voi ra sao bằng cách mô tả cái vòi và đôi tai của nó :-).

2. Bạn có thể tự mình đánh giá khả năng chơi đàn của Bell bằng cách nghe toàn bộ 6 bản nhạc được anh biểu diễn trước nhà ga Metro ở đây. Quan trọng hơn, bạn có thể thành thật trả lời với bản thân, nếu là tôi, liệu tôi có dừng chân hay ít nhất cũng đưa mắt tìm kiếm người chơi đàn? Tôi đã biết câu trả lời của bản thân mình là gì. Lương tri của tôi chỉ mới … thiu thiu ngủ, chưa chết. :-)

3. Trong khi đang ngồi trong thư viện “mổ cò” bài viết này, tôi không để ý thấy một cô bé Mỹ đi quanh thư viện và mời các sinh viên ăn bánh cookie miễn phí. Khi cô bé đến đứng cạnh tôi và mời tôi ăn bánh, tôi giật mình. Vì không biết ăn bánh có phải trả tiền không nên tôi đành từ chối. Sau đó tôi thấy những người bên cạnh ăn bánh mà không hề phải trả tiền nên cũng có chút hối tiếc :-). Nhưng điều tôi muốn nêu lên ở đây là tôi chẳng thấy một ai trong số những người nhận bánh thắc mắc tại sao cô bé lại mời họ ăn bánh miễn phí. Đây là lần đầu tiên có người vô thư viện mời sinh viên ăn bánh. Chẳng lẽ họ không có chút thắc mắc nào sao? L‎ý do gì? Dịp lễ gì? Cô bé đại diện cho tổ chức nào? Vậy mà chẳng một ai quan tâm đặt câu hỏi. Chúng tôi quá bận rộn với bài vở và thi cử nên không thể dành chút sự quan tâm cho người khác? Không có khả năng tiếp nhận những thông tin không cần thiết cho nhu cầu cá nhân? Không thể mở rộng đôi chút tấm lòng cho người khác? Cũng như 1,097 người dân Washington không thể mở đôi tai hay cặp mắt tiếp nhận Bell và tiếng đàn của anh?