Sunday, December 24, 2006

Three grades of thinking

Chúng ta vẫn thường xuyên nghe đi nghe lại luận đề “Con người là động vật biết tư duy”, rằng sự khác biệt giữa người và vật là ở chỗ con người có khả năng suy nghĩ và giải quyết vấn đề, còn con vật thì không. Chúng ta đã nghe lập luận này quá nhiều lần đến nỗi chúng ta tin vào sự đúng đắng tuyệt đối của nó và chẳng bao giờ nghĩ đến chuyện tìm hiểu xem liệu bản thân ta hay những người xung quanh có thật sự suy nghĩ hay không. William Golding, nhà văn người Anh đoạt giải thưởng Nobel văn chương năm 1983, lại không hoàn toàn tin như vậy.

Trong một bài luận viết năm 1961 có tựa đề “Tư duy là sở thích của tôi”, ông phân loại tư duy của con người thành 3 cấp độ. Những người thuộc cấp thấp nhất, cấp độ 3, là những người chẳng hề dùng đến đầu óc để tư duy và họ chiếm 90% dân số nước Anh (ta có thể mở rộng ra cho 90% dân số thế giới). Cái gọi là tư duy đối với 9/10 dân Anh chẳng qua chỉ là một tập hợp những “thành kiến trong vô thức, sự thiếu hiểu biết và thói đạo đức giả” (unconscious prejudice, ignorance and hypocrisy). Để minh họa, Golding đưa ra ví dụ về một ông thầy cấp 2 của mình, một người tự nhận là có nhiều tư duy và nhiều lần khẳng định hùng hồn trước đám học trò về một cuộc sống lành mạnh về thể chất và tinh thần, về đạo đức và nghĩa vụ. Ấy vậy mà bọn học trò ai cũng biết ông là kẻ bợm rượu và mỗi khi đang giảng bài nếu thoáng thấy có bóng dáng một chiếc váy đi ngang qua cửa số là ông quay đầu nhìn như muốn sái cả cổ. Một vài ví dụ khác Golding đưa ra để minh họa cho hành vi và lối tư duy của những người tư duy cấp 3: đám đông la hét mừng rỡ đón chào vua hay nữ hoàng Anh đi ngang qua để thể hiện lòng yêu nước của mình, một thủ tướng Anh ra quyết định bỏ tù Nehru và Gandhi rồi tuyên bố làm như vậy là có lợi cho dân Ấn, hay các chính trị gia Mỹ câu trước tuyên bố hùng hồn về hoà bình thế giới, câu sau lại từ chối gia nhập Liên hiệp các Quốc gia [League of Nations, tiền thân của Liện Hiệp Quốc hiện nay]. Theo Golding, “tư duy” ở mức độ này nghiêng về cảm giác hay cảm xúc (feeling) nhiều hơn là lý trí.

Ở cấp độ cao hơn một bậc, những người tư duy cấp 2 khám phá ra rằng xã hội loài người chứa đầy những mâu thuẫn và những điều trái ngược nhau. Những người lên được tư duy cấp 2 là những người đứng tách biệt, lùi mình khỏi đám đông. Họ mở to đôi mắt và giong đôi tai để quan sát, tiếp thu, và phân tích. Người tư duy cấp độ 2 có khả năng đạp đổ nhưng không xây dựng được một kiến trúc mới thay thế cho cái họ đã phá hủy. Họ có thể đứng bên ngoài chế diễu đám đông cuồng nhiệt đang bày tỏ lòng hâm mộ trước các siêu sao điện ảnh và ca nhạc, hay chế diễu sự mâu thuẫn trong hành vi của những con chiên ngoan đạo một mặt tuyên bố sẵn sàng chìa má còn lại cho người khác tát nhưng mặt khác sẵn sàng cầm gươm, giáo tham gia thánh chiến. Nhưng ngoài việc chế diễu, vạch trần, đạp đổ các quan điểm mang tính thành kiến, sai lầm và lạc hậu, tư duy cấp 2 không đưa ra được một giải pháp tích cực nào thay thế.

Vạch ra những điểm yếu kém của các thế hệ đi trước có thể làm thoả mãn cái “tôi” của những người tư duy cấp 2 nhưng không mang lại cho họ cảm giác yên ổn. Họ giống như những người bơi giỏi, có thể bơi ra xa bờ để lại những người khác ở đằng sau. Nhưng ở xa bờ, mực nước vượt quá đầu họ và ở đó họ chỉ có đơn độc một mình. Pontius Pilate của La Mã cổ đại là ví dụ điển hình cho tư duy cấp 2. Ông đã từng phát biểu, “Sự thật là gì? Nó chỉ là cái mà người ta dùng để chấm dứt tranh luận thay vì để khởi đầu sự tranh luận”. Khác với người tư duy ở cấp độ 2, sau khi đặt câu hỏi “Sự thật là gì?” người tư duy đẳng cấp 1 sẽ bắt tay đi tìm kiếm và đưa ra câu trả lời thích đáng.

Dĩ nhiên, những người người tư duy đẳng cấp 1 là cực kỳ hiếm. Golding đưa ra Einstein làm một ví dụ. Ví dụ khác ông đưa ra chính là … bản thân ông, Golding. Ông giải thích rằng khi đạt đến đỉnh cao tư duy cấp độ 1 “tất cả các hệ thống chính trị, tôn giáo, tập tục xã hội, trung thành với truyền thống, quốc gia đều bị giựt đổ cho té nhào, như những trái táo thối rơi khỏi cành.” Ở đẳng cấp này, Golding tự xây dựng cho mình một hệ thống đạo đức và cấu trúc xã hội rất chặt chẽ và hoàn toàn lôgic, trong đó ông “gạt bỏ một loạt những thứ vặt vãnh, vô bổ như chính phủ, các tập đoàn kinh doanh lớn, quân đội, hôn nhân ….” Dĩ nhiên, ông khám phá được rằng đa số loài người hài lòng với cuộc sống mà họ đang có và chẳng ai hồ hởi muốn tham gia xây dựng cái thế giới “hoàn hảo” do ông nghĩ ra.


~.~.~

Pascal có câu nói nổi tiếng, “Con người là cây sậy biết tư duy”. Vậy Pascal đúng hay Golding đúng? Con người có thật sự biết tư duy?

Thật ra, nếu đọc kỹ toàn bộ đoạn văn Pascal viết và hiểu đúng những gì Golding trình bày, ta sẽ nhận thấy quan điểm của Pascal và Golding không đối chọi nhau. Pascal viết,

Con người chỉ là một cây sậy, một loại cây yếu ớt nhất trong thế giới tự nhiên, nhưng họ là một cây sậy biết suy nghĩ … Một hơi nước, một giọt nước cũng đủ để giết chết họ. Nhưng nếu có bị vũ trụ nghiền nát, thì sự hiện diện của con người vẫn còn cao thượng hơn thế lực đã giết chết họ, bởi vì con người ý thức được cái chết của mình và biết được ưu thế của vũ trụ, trong khi đó vũ trụ là vô tri, vô giác và không hề biết được điều này. Vì vậy tất cả sự tôn nghiêm của con người nằm ở chỗ họ biết tư duy. Chúng ta cần nâng cao vị trí của mình thông qua tư duy, chứ không thông qua chiều không gian và thời gian vì [chúng là vô hạn và] chúng ta không thể lấp đầy không gian và thời gian được. Vì vậy chúng ta hãy nỗ lc tư duy cho tốt [to think well]; đây chính là nguyên tắc của đạo đức.” (Penseés, VI: 347)

Pascal không kêu gọi con người “hãy tư duy đi”, vì nói vậy chẳng khác nào buộc tội họ là những sinh vật không biết tư duy. Golding cũng không nói rằng loài người không biết tư duy. Ngược lại, ông muốn chỉ ra cho thấy 90% loài người tin và chấp nhận một cách mù quáng những hành vi, tập tục, thể chế cổ hủ và tiêu cực trong xã hội. Pascal kêu gọi mọi người hãy “tư duy cho tốt” và xem đó là “nguyên tắc của đạo đức”, điều này cũng phù hợp với quan điểm của Golding khi ông đánh giá cao những cá nhân dám vươn mình bước lên trên đám đông, đạp đổ những “thành kiến, sự thiếu hiểu biết và thói đạo đức giả” và từ đó đề xướng ra những con đường đi mới.

~.~.~

Câu chuyện về ba ông thầy của tôi.

Câu chuyện thứ nhất: ông thầy khoa Nhân chủng học. Vừa về hưu năm ngoái vì đã 70 tuổi. Mấy câu cửa miệng ông thích trích dẫn: “People don’t think, they don’t want to think, because thinking is painful.” Và “We have culture to help us not to think”.

Câu chuyện thứ hai: ông thầy khoa Sử. Nhận xét về cuốn “Democracy in America” do một tác giả người Pháp, Tocqueville, viết vào giữa thế kỷ 19 sau khi đi vòng quanh nước Mỹ trong 9 tháng, một cuốn sách kinh điển về xã hội-văn hóa Mỹ mà cho đến nay sau hơn 150 năm vẫn chưa một tác giả Mỹ nào vượt qua được, ông nói: “Culture is something we don’t think about because we all take it for granted.” Rồi ông nói tiếp, đại khái một người nước ngoài từ một nền văn hóa khác sẽ dễ dàng nhận thấy những gì mà những người sống bên trong nền văn hóa không nhìn thấy. (Trong môt thoáng tích tắt, ông gieo vào đầu tôi ảo ưởng mình có thể trở thành một Tocqueville thứ hai :-).

Câu chuyện thứ ba: ông thầy gốc da đỏ dạy khoa Hoa Kỳ Học. Sau khi cho học trò xem xong một phim tài liệu mà bây giờ tôi không nhớ là về đề tài gì, ông chỉ bình luận một câu ngắn gọn, đại khái là: “It’s traditions that keep people from thinking.”

~.~.~

Cách đây 2 năm, có một anh giáo viên đại học ở Sài Gòn được học bổng qua chỗ tôi du học. Có một lần ngồi tán phét với nhau, hắn ta thú nhận từ nhỏ đến lớn ở VN hắn chưa bao giờ nghĩ rằng nữ giới thông minh như nam giới hoặc nữ giới có khả năng trí óc ngang bằng với nam giới. Chỉ khi đặt chân sang Mỹ du học hắn mới bắt đầu thay đổi quan niệm này. Tôi quên không hỏi điều gì đã gây ra sự thay đổi và lý do nào trong hơn hai mươi mấy năm trời hắn tin rằng phụ nữ là thua kém nam giới về khả năng trí tuệ và lãnh đạo. Tôi chỉ có thể suy đoán rằng đó là sản phẩm của một nền văn hóa Khổng giáo với những thành kiến phân biệt đối xử “trọng nam, khinh nữ” như “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, “nam thượng nữ hạ”, hay “nữ nhân ngoại tộc”.

Văn hóa là những gì bao bọc, vây quanh ta hàng ngày. Chúng là một phần quen thuộc của cuộc sống đến nỗi ta chấp nhận và xem sự hiện diện của chúng là đương nhiên. Ít có ai bổng nhiên đi đặt câu hỏi: những điều bấy lâu nay ta vẫn làm có đúng không? có phải sinh con trai là tốt hơn sinh con gái? tại sao con trai lại tốt hơn con gái? Tôi đã thử vật lộn tìm câu trả lời cho những câu hỏi trên dựa vào hiểu biết ít ỏi của mình về xã hội VN và cho rằng có 2 trường hợp có thể xảy ra. Trường hợp 1, người được hỏi những câu hỏi trên sẽ đưa ra những câu trả lời rất “củ chuối” đại loại như “vì xã hội/ông bà ta trước nay vẫn quan niệm vậy”, hay “sinh con trai để nối dõi tông đường” hoặc “vì con trai sẽ phụng dưỡng bố mẹ khi về già, còn con gái thì phải đi lấy chồng và chỉ biết lo cho chồng, con và gia đình chồng”. Đối với những người trả lời kiểu này này, nếu bị vặn hỏi tiếp, họ sẽ không thể giải thích được con gái và con trai khác nhau chỗ nào, vì sao con gái không thể nối dõi tông đường, và vì sao có những trường hợp con gái đi lấy chồng không thể quay lại chăm sóc cho cha mẹ mình. (Dĩ nhiên, con trai có bao giờ chăm sóc cho cha mẹ bao giờ, chúng lấy vợ và bắt vợ phải chăm sóc cho mẹ mình. Đó chẳng qua chỉ là một hình thức trao đổi “hàng hóa con người” trá hình: đổi con gái mình lấy con gái người khác về làm nô lệ trong nhà. Nếu không có con gái thì coi như lời to.)

Khá hơn một chút là những câu trả lời như “vì con trai dễ đạt được công danh sự nghiệp, mang lại vinh dự cho gia đình”, “vì con trai kiếm được nhiều tiền cho gia đình hơn con gái”, hoặc “vì con trai đóng góp được nhiều ích lợi cho xã hội hơn con gái”. Với những người này, việc giải thích để họ hiểu tại sao lại có những hiện tượng nam-giỏi-hơn-nữ sẽ mất khá nhiều thời gian. Họ cần phân biệt được sự khác biệt giữa nam và nữ do thiên nhiên tạo ra và sự khác biệt giữa nam và nữ do con người tạo ra. Nam giới có được tất cả những ưu thế nêu trên không phải là nhờ vào năng lực bẩm sinh mà là vì cơ cấu xã hội đã được thiết kế để cho phép nam giới có cơ hội làm những việc đó tốt hơn nữ giới. Điểm mấu chốt ở đây là sự bất bình đẳng về cơ hội, nó không liên quan gì đến sự khác biệt về mặt tự nhiên giữa nam và nữ.

Blog này có tên là no-mind là vì vậy. Đôi khi điểm xuất phát của một người thuộc dạng no-mind lại có nhiều ưu thế hơn những người chứa đựng quá nhiều nhận thức và thành kiến sai lầm trong đầu. Tháo gỡ những nhận thức và thành kiến sai lầm là một quá trình thật không đơn giản chút nào.

~.~.~

Phụ chú:

1. Trong bài viết của mình, Golding chỉ đề cập đến Einstein là người có tư duy ở đẳng cấp 1. Lẽ ra ông còn có thể kể tên ra một số nhân vật lịch sử khác ở châu Á như Khổng Tử, Phật Thích Ca, Gandhi, v.v. vì đây là những nhân vật đã để lại cho nhân loại một mô hình xã hội hoặc một triết lý sống gần như hoàn toàn tách rời khỏi những truyền thống đi trước và phần nào giải quyết được những vấn đề nhức nhối vào thời đó.

2. Nếu bạn đọc thấy trên blog này có quá nhiều ý kiến chê bai, chỉ trích nhưng lại thiếu ý kiến đóng góp, bạn phải hiểu rằng tôi đang mon men trèo các nấc thang để bước lên tầng 2 của toà nhà tư duy. Nói một cách khác, tôi chỉ có thể cố gắng đập phá cái chai để chui ra khỏi nó, nhưng chưa biết làm cách nào tạo ra được một cái chai khác to và đẹp hơn. “Đập phá” ở đây mang nghĩa bóng, ám chỉ đến sự thay đổi trong nhận thức về tư duy thông qua giáo dục, hy vọng nó sẽ dẫn đến thay đổi về hành vi và tập tục xã hội. Tôi hoàn toàn ý thức được tác hại nguy hiểm của việc “đập phá cái cũ xây dựng cái mới” và hoàn toàn không chủ trương dùng bạo lực.

3. "Man can alter his life by altering his thinking" (William James). Vấn đề là bằng cách nào chúng ta có thể thay đổi được cách tư duy của mình? Ông bà ta đã có sẵn câu trả lời: “Đi một ngày đàng học một sàng khôn.” [Câu này được dịch sang tiếng Anh nghe rất hay: Leave the village for a day and come back with a basketful of wisdom.] Nếu đi từ Huế vô Sài Gòn, ta sẽ học được nhiều điều mới mẻ và tư duy sẽ có vài chuyển biến, mặc dù vẫn còn trong phạm vi tư duy người Việt. Nếu đi từ Á qua Âu, chắc chắn sẽ có những thay đổi trong nếp tư duy, vượt qua cái khung văn hóa Việt. Ở đây tôi không hề có ý cổ suý cho việc bài các, chê bai, đạp đổ văn hóa Việt để trở thành một người châu Âu hay người Mỹ trăm phần trăm. Trong phần viết về “tư duy trong-cái-chai”, tôi đã nói rõ một thế giới hoàn hảo là thế giới kết hợp cả những cái hay của Á và Âu. Dĩ nhiên, câu hỏi cuối cùng là ta có làm được vậy không? Hay “Đông là Đông/Tây là Tây/Cả hai sẽ chẳng bao giờ gặp/hiểu được nhau”?

4. Vậy còn những người không có cơ hội đi đây đi đó? Họ cần đọc nhiều để phát triển óc tò mò và trí tưởng tượng của mình. Trí tưởng tượng càng phong phú, đầu óc càng ham học hỏi thì càng dễ tiếp nhận những kiến thức mới và mở rộng sự hiểu biết. [The man of prejudice is, a fortiori, a man of limited mental vision - Webster Dictionary.]

Tuesday, December 19, 2006

Unhappy-Happy in America

Có một câu hỏi mà dân Mỹ rất tò mò muốn biết bọn sinh viên quốc tế trả lời ra sao, đó là: Mày có dự định ở lại Mỹ sau khi tốt nghiệp không? Có đứa tế nhị hơn thì sửa đổi câu hỏi lại một chút thành: “Mày định làm gì sau khi tốt nghiệp?” Tính từ đó đến giờ, tôi đã phải trả lời cho câu hỏi này cũng gần một chục lần.

Động cơ thúc đẩy bọn Mỹ đặt câu hỏi này không phải chỉ có một. Ẩn chứa bên dưới bề mặt câu hỏi là một chuỗi các vấn đề liên kết với nhau. Câu trả lời “Có” không đơn giản chỉ làm thoả mãn lòng hiếu kỳ của người đặt ra câu hỏi muốn kiểm tra xem những gì người Mỹ biết được về thế giới nghèo đói bên ngoài thông qua báo chí, ti vi có đúng không. Nó còn khẳng định với dân Mỹ rằng họ đã có may mắn được sống trong một đất nước tươi đẹp, một giấc mơ thiên đường cho cư dân của thế giới thứ 3 (và thậm chí cả thế giới thứ 2). Sống trong một xã hội luôn tự hào về quyền tự do ngôn luận và có cơ hội tiếp xúc với những luồn thông tin trái ngược nhau về tình hình xã hội, thành phần có học trong dân Mỹ vẫn ý thức được tính chất “hai-mặt Janus” của nước Mỹ - một bên là sự xa hoa, giàu có không tưởng của giới có tiền, một bên là sự nghèo đói bần cùng của tầng lớp di dân, dân da đen, dân da đỏ ở tận đáy xã hội; một bên là những lý tưởng tôn giáo khước từ cuộc sống vật chất và đề cao sự hoàn thiện của thế giới tinh thần, bên còn lại là những siêu thị hàng hóa rực rỡ và lối sống chạy theo chủ nghĩa tiêu thụ không cần biết đến ngày mai. Không ít thì nhiều, chúng gieo vào trong tiềm thức của những người Mỹ có chút học thức và đầu óc sự hoài nghi và hoang mang về bản chất cuộc sống của xã hội Mỹ. Liệu con đường xã hội Mỹ đang đi là đúng? Liệu cuộc sống tràn ngập hàng hóa tiêu thụ có hẳn là cuộc sống lý tưởng? Liệu cuộc sống đề cao tính chất cộng đồng có thật sự ưu việt hơn cuộc sống đề cao cá nhân chủ nghĩa? Liệu một cuộc sống nghiêng về tinh thần có mang lại cho con người niềm hạnh phúc chân chính và lâu bền hơn là những giây phút hân hoan ngắn ngủi của vật chất và xác thịt?

Sự hoang mang này nằm yên lặng, tiềm ẩn dưới bề mặt của lý trí, nhưng giống như một lớp bùn mỏng nằm dưới đáy hồ, chỉ cần có chút khuấy động [bởi sự hiện diện của một người nước ngoài] chúng sẽ bị xáo trộn và cuốn lên bề mặt, vụt thành câu hỏi: “Mày có dự định ở lại Mỹ sau khi tốt nghiệp?” Câu trả lời “Có” hay ít ra là một cách thể hiện tương đương nào đó sẽ xóa tan mối hoài nghi trong lòng người hỏi và khẳng định với họ tầm quan trọng không gì thay thế được của cuộc sống kinh tế sung túc ở Mỹ.

Đối với câu hỏi này, tôi không có một câu trả lời nhất định. Câu trả lời của tôi phụ thuộc vào đối tượng đặt câu hỏi, hoàn cảnh và bối cảnh khi câu hỏi được đặt ra và tôi có được bao nhiêu thời gian để trả lời. Lần đang ngồi trong xe cùng với 2-3 đưa bạn, tôi trả lời ngắn gọn: Ở Mỹ hay về Việt Nam là một lựa chọn mang tính đánh đổi. Được cái này nhưng mất cái khác. Nó là một quyết định khó khăn, tao chưa biết được. Có lần khác bọn học trò trong lớp thắc mắc, tôi nói: Tao đã ký vô giấy tờ, học xong phải về nước. Bọn nó không hài lòng vẫn tiếp tục truy hỏi: Nhưng tại sao mày muốn về? Tôi trả lời cho xong chuyện: Tao muốn về làm một cái gì đó cho xã hội và đất nước tao. Vậy mà trông mặt bọn nó có vẻ tin vào lời tôi nói, thiệt ngố không tin nổi! Lần khác, có đứa đặt câu hỏi đó qua e-mail, tôi có rộng thời gian hơn để suy nghĩ và tìm cách trả lời cho dài dòng, văn hoa môt chút. Câu trả lời là như sau:

“This is a common question Americans ask foreign students all the time - does he or she plan to stay on in the US or go home? I guess the assumption is that if they want to stay here, that demonstrates the superiority of the US political, economic system. That's true but I would say sometimes things are more complex than that, and it's always a trade-off between staying here and going home. It reminds me of something I read in a book about Western tourists visiting Thailand and liking it a lot. The only complaint they made of Thailand is "Too bad there are too many Thai people here." In a way, that may apply to many foreign immigrants in the US too (“Too bad there are so many Americans here” or “Too bad there weren't more Chinese/ Vietnamese/Indians/etc. here”).

I never thought about staying in the US but the closer I get to completing the program, the more I have to think about it. On the one hand I want to go back because that's where I can function and do what I do best. On the other, I cringe at the thought of having to face bureacracy, corruption, and inefficiency. It's not an easy decision though and it is tied to a lot of factors. But in the end, I'll go back.”

Tất nhiên còn cả lô, cả lố những yếu tố khác mà nói ra chưa chắc nó hiểu.

Dù sao, đó là một câu hỏi không có câu trả lời cố định, không dành riêng cho bất cứ ai.

~.~.~

Cuộc sống ở Mỹ đối với những người nước ngoài thật không dễ dàng chút nào. Đối với những ai qua Mỹ khi còn ở lứa tuổi học trò, giai đoạn chuyển tiếp và hội nhập sẽ dễ dàng và tự nhiên hơn. Đối với những người đã trên tuổi hai mươi mấy, đi sang Mỹ với gánh nặng hành lý văn hóa bản địa trên vai, việc sửa đổi hành vi, thói quen cư xử, nếp suy nghĩ và học cách diễn đạt qua một ngôn ngữ mới là cả một quá trình đầy thách thức. Đầu óc họ trong giai đoạn đầu ở xứ lạ vì vậy luôn trong tình trạng “đi đi về về” giữa hai nền văn hóa. So sánh, đối chiếu giữa hai nền văn hóa là không điều thể tránh khỏi với họ, nó là hành động thuộc phạm vi tiềm thức, vượt qua tầm kiểm soát của bản thân. Chính vì vậy họ lại là những người hiểu biết và có cái nhìn sâu sắc về xã hội Mỹ. Bài viết dưới đây có tựa đề khá bi quan “Unhappy in America” nhưng không vì vậy mà ta có thể kết tội nó có cái nhìn một chiều phiến diện. Bài viết có nêu lên những mặt tích cực và tốt đẹp mà dân di cư nhận xét về nước Mỹ. Bài viết có nhiều nhận xét rất hay. Dân Ấn Độ quả đúng là có chiều sâu tư duy. Bài đáng để đọc hết, dù hơi dài, ở đây tôi đã cắt xén bớt khá nhiều.

~.~.~

Unhappy in America

America the beautiful? No thanks. All they want is a ticket back to India.

Little India, NCM Award Winner, Lavina Melwani, Posted: Feb 01, 2006

Can we call her Aparna? She is about to open up a vein and show you how she bleeds - but she's not about to tell you her real name. _She is nameless, faceless. But her story is partly yours and mine, of every immigrant who left some place to arrive some place else. She prefers to remain anonymous. Yet ask her about her life in America, and it's like opening the floodgates.


She is unhappy in America. Do you hear: unhappy! She wants to go back home! People are incredulous when they hear that: who in their right minds would want to leave America, the golden land of opportunities and dollar bills? You have people clawing and scratching, trying to get into America - and she wants to leave?

[...] The colors seemed to have been drained out of her life. Says Aparna, "The small pleasures of life I used to experience in India, I do not experience here. In India, standing on your balcony, you see life, you see kids playing, you see people sitting together. Neighbors stop to laugh and chat and find out how you're doing. _"Here I would sit on the deck in the suburbs. All around me, there are beautiful trees, beautiful landscapes, and lovely cars. But there are no people. You might as well hang up a pretty picture in your living room and just keep on watching that. What's the difference?"

[…] "Initially it was very depressing, because you miss your family and the whole culture is different. … The cultural difference is the biggest thing. It's tough to blend in with the people here. You may think you have a green card, you have citizenship, but you're just not amongst them. They still look at you as different."

[…] "I think each and every individual is here to make money. Personally if given a choice, each one of us would be there and not here. So I guess each one of us is compromising and trying to adjust."

[…] She acknowledges that Indian communities are growing in America, but she still does not find it the real thing: "Everything seems to be artificial and formal and people seem to be pretending. You feel as if everyone has a mask on their face. They are not the same any more."

[…] She feels in America, people are running on mental treadmills, with no time for anyone. You dare not drop in on a friend uninvited or dawdle with extended family, chatting over dinner on a weekday. She says, "It's this 'I'm really busy' attitude. It's the same 24 hours we used to have in India, the same 24 hours we have here. It's the same time, what's the difference, I don't understand. Yes, I know we don't have help here, but I'd make sure I give a hand with the dishes before I leave."

The only thing she appreciates about America is the freedom a woman gets and she savors the fact that she can drive around at midnight or walk on the street without being harassed, as was often her experience in India.

[…] Well-wishers point out to her the glittering wonders of America, the many malls where you can get anything your heart desires. She says, "Yes, because you don't have a family or circle of friends whom you can be with, you walk around malls and ultimately buy things. It's a consumer society and that's the only entertainment." People warn her that after being exposed to America's charms, she'll never be able to live in India again. She retorts, "You lived there for 25, 30 years, and now it's suddenly intolerable to you? I don't understand that. It's the same world, probably even better than what you had left earlier."

Finally, what is the green card really worth? Aparna has seen people who have been unable to attend the last rites of their beloved parents, because they did not want to jeopardize their chances of getting this little piece of paper.

She says, her voice breaking: "People tell me I'm getting emotional. Yes, sure I am. If you cannot be with your dying parent, then what is life all about? They invest all their love, time and effort in bringing you up and you cannot be there for that final goodbye? When the child is not there, what's the point?"

Shattered Dreams

Partha Banerjee can certainly tell you a thing or two about being unhappy in America. The people he deals with every day at New Immigrant Community Empowerment (NICE) in Jackson Heights, Queens, live incredibly difficult lives here in the richest, most affluent country on the planet.

His life in Southern and Central Illinois, and later in upstate New York was very spartan and emotionally bare: "These are small, cold desolate places and you have no friends.

***

It's miserable. If you have no job, you are ill or have some health problem, then that's the time you feel more isolated, more lonely. And that's the time you wish that you hadn't come to this country."

[…] Following a stint as a TV producer, he chucked it all to become a full-time advocate with NICE, doing grass-roots work with immigrants of all races and helping them in their day to day struggles.

And in taking a pay-cut and leaving academia and corporate America, Banerjee found himself. He says: "If you really are in a lifelong searching process, it's an exploration to find where you belong and what makes you happy. It's not about making money." _Would be go back? "This is a very difficult question, because nobody knows the real answer," he says. "Emotionally and spiritually I was much happier in India, but I have also gained a lot here. Not material gains, but intellectual and spiritual gains." _Spiritual gains in this hotbed of consumerism? He seems to have got it all wrong. Isn't India the place people go for spiritual gains? He says, "It's really about knowing yourself. In India surrounded by family, you don't really learn so much about yourself. Coming here to America and struggling, I got to know myself." Banerjee, whose inspiration is Swami Vivekanand, says, "I am much more privileged and much happier than before, now that I have found my own niche in working for the poor and the dispossessed."

Daily he sees the ugly underbelly of the American Dream as he fights for new immigrants, people whose dreams are completely broken. There are battered women who have no way of going back home; construction workers who are old and still struggling on scaffoldings for a pittance; domestic servants who are not even given a mattress to sleep on; the hundreds of men with Muslim names or brown faces who have faced a hard new America after 9/11; random victims of accidents, circumstances or crime. Being with them and providing them with some kind of hope and solidarity gives him satisfaction - and yes, makes him happy.

"There are so many stories of unhappy people," he says. He recalls a Bangladeshi couple, a doctor and a pharmacist, who won the Immigrant Diversity Visa lottery and came to this country to make it big. "Recently I saw him working at a gas station, pumping gas at 3 a.m. His wife is waiting on tables at a restaurant." _Then there are some elderly parents for whom the large suburban palaces of their children have nothing to warm them. Having joined their offspring in America, they are cut off from their life-source, marooned in a fast-moving America they cannot connect with, dependent on busy children who don't really have time for them.

***

[…] Many would be immigrants confuse the real America with the America perpetuated by Hollywood, enhanced with Dolby Sound. Whether it's a romantic comedy, a thriller or a musical, the women are sexy, the cars are fast - and yes, life is beautiful. All dilemmas are settled by the end of 90 minutes, and though you know it's just a movie, when you are living in India and have never seen America, it's all you have to go by. Yes, you see drug dealers and seedy neighborhoods in the movies, but isn't that just cinematic color and drama for the backdrop? Immigrants never picture themselves in that scene. They visualize a landscape where the streets are paved with gold, with a house in a pristine suburbs and a hefty bank balance.

It is often a rude awakening for a new immigrant to find himself in a rundown seedy apartment crawling with roaches and rats, counting pennies and struggling to hold on to a miserable job that he hates, if only for survival.

The faces of indifferent strangers greet him in the corridors and on the streets. At that moment, the string bed in the open courtyard of his village home, surrounded by loved ones and a pot of saag cooking on the family hearth, seems incredibly inviting. This too is somebody's American Dream gone awry.

Sunday, December 17, 2006

Moving in and out of bottles

Tôi không biết trong tiếng Việt khi muốn động viên một ai đó cần có suy nghĩ sáng tạo, không đi theo lối mòn, ta sẽ nói thế nào. Những cách nói thông thường như “phải động não đi chứ” hay “phải biết cách dùng đầu óc” không thể hiện được ý tôi muốn diễn đạt. Trong tiếng Anh có thành ngữ “think outside the box.” Lần đầu tiên nghe câu này tôi rất bị ấn tượng vì nó lập tức gợi lên trong đầu tôi hình ảnh một chiếc hộp nhỏ bé, ngột ngạt, giam hãm và cầm tù tư duy của con người.

Dĩ nhiên không phải chỉ có tôi mà một số đông dân Mỹ cũng có ấn tượng mạnh đối với cách diễn đạt này. Kết quả là sau một thời gian dài được quá nhiều người sử dụng, giờ đây thành ngữ trên đã mất tính độc đáo và trở thành một cụm từ khá sáo mòn. Hơn nữa, chẳng có mấy người Mỹ thật sự hiểu được thế nào gọi là “think outside the box.” [Trong tiếng Việt cũng có những hiện tượng tương tự. Chẳng hạn như khi nghe những câu như “Đầu tiên là tiền đâu” hay “Nhìn đời qua hai mảnh ve chai,” tôi đoán giờ chẳng có mấy người Việt Nam còn cảm thấy thích thú với chúng.] Nguồn gốc của câu “Suy nghĩ bên ngoài cái hộp” trong tiếng Anh được người ta giải thích là xuất phát từ câu đố 9 chấm như sau: Làm cách nào chỉ bằng một nét bút bạn có thể nối 9 chấm vẽ trên một trang giấy bằng 4 đường thẳng?




Như các bạn có thể thấy, nếu như trong khi cố gắng giải đáp bài toán, trong đầu của bạn chỉ có thể hình dung nối liền 9 chấm trong phạm vi đường biên giới hình vuông trên thì bạn phải cần ít nhất là 5 đường thẳng mới có thể giải được bài toán này. Để giải quyết được bài toán bạn cần bạn phải suy nghĩ thoát ra “bên ngoài cái hộp” hình vuông ấy. Chẳng hạn, bạn có thể nối liền 9 chấm theo hình sau:



Như vậy, bằng cách gạt bỏ đường biên giới hình vuông ra khỏi óc, bạn đã nới rộng phạm vi tư duy và phạm vi tự do hành động của mình. Giải pháp cho bài toán này cũng như nhiều bài toán khác trong cuộc đời, nó phụ thuộc vào việc bạn có thể xoá bỏ những rào chắn trong tư duy hay không.

Đó là cách người ta giải thích nguồn gốc thành ngữ “think outside the box.” Câu thành ngữ này được giới tư vấn kinh doanh và quản trị ở Mỹ sử dụng nhiều. Có lẽ vì lĩnh vực quản trị-kinh doanh là lĩnh vực quan trọng mang lại hàng triệu đôla lợi nhuận nên những người sử dụng nó có cơ hội xuất hiện nhiều trên truyền hình hay được trích dẫn nhiều trên báo chí. Cụm từ “think outside the box” do đó có cơ hội truyền bá đến số đông dân chúng.

Còn một cách diễn đạt và một khái niệm khác không kém phần hấp dẫn mà rất ít người biết và sử dụng. Lý do có thể là vì nó có nguồn gốc xuất phát từ triết học, mà như tất cả chúng ta đều biết, triết học không phải là môn học có giá trị thực tế. Như những ai đã từng tìm đến các giảng đường triết học để chữa chứng bệnh mất ngủ kinh niên của mình đều biết, nó không giải quyết những vấn đề thiết thực như cơm-áo-gạo-tiền của cuộc sống mà chỉ bàn đến những vấn đề cao siêu ít người quan tâm. Chính vì vậy, cách diễn đạt thứ hai mà tôi dùng làm đầu đầu đề cho bài viết này không được đưa vào trong ngôn ngữ sử dụng hàng ngày và không được nhiều người biết đến.

~.~.~

Wittgenstein là một triết gia Áo sống vào nửa đầu thế kỷ 20. Ông có nhiều đóng góp quan trọng vào nền triết học đương thời, trong đó bao gồm cả đóng góp vào lĩnh vực triết học ngôn ngữ (philosophy of language). Ông được xem là một trong những triết gia xuất sắc của thế kỷ và được tạp chí Time đưa vào trong số 100 danh nhân thế giới thế kỷ 20.

Thú thật, tôi không đủ trình độ - mà cũng không có tham vọng – để thấu hiểu toàn bộ hệ thống ý tưởng của ông. Nhưng trong quá trình đọc sách triết, thỉng thoảng tôi cũng chống chọi được với cơn buồn ngủ và ráng vày vò đầu óc để tìm hiểu xem các nhà triết học đang muốn truyền bá điều gì đến những độc giả có số IQ thấp như tôi. Nhờ vậy, tôi học được một ý tưởng ngộ nghĩnh Wittgenstein dùng để giải thích vai trò của triết gia và bản chất của các vấn đề triết học phức tạp. Theo Wittgenstein, lý do tại sao các triết gia bao đời nay vẫn loay hoay chưa giải quyết được các bài toán triết học đã có từ thời cổ đại là vì những câu hỏi triết học mà họ nêu ra có thể nói là vô nghĩa. Theo ông, thông qua ngôn ngữ, các triết gia nêu lên những vấn đề to tát như vật chất (matter), ý thức (mind), tự do ý thức (free will), cái thiện, cái ác, v.v. mà không ý thức được rằng ngôn ngữ là một phần gắn chặt của cuộc sống và không thể tách rời ngôn ngữ ra khỏi những bối cảnh cụ thể của cuộc sống mà không làm mất đi ý nghĩa của ngôn ngữ. Khi dùng ngôn ngữ để nêu lên các vấn đề mang tính triết lý, các nhà triết học đã tách rời ngôn ngữ ra khỏi môi trường tự nhiên của nó và đưa nó vào một môi trường triết lý siêu hình, trong đó tất cả những đặc tính quen thuộc và cần thiết của ngôn ngữ biến mất.

Wittgenstein ví việc đưa ngôn ngữ vào trong một môi trường triết lý siêu hình cũng giống như việc đi trên vùng đất băng trơn không có sự ma sát (frictionless ice). Lý do cần thiết để tạo ra một môi trường như vậy là vì các nhà triết học cần tạo ra những điều kiện hoàn hảo để qua đó họ có thể áp dụng một ngôn ngữ hoàn hảo về logic và triết học để giải quyết tất cả những vấn đề triết học mà không phải chịu bất cứ ảnh hưởng “ma sát” nào của những hoạt động sinh sống hàng ngày của con người. Dĩ nhiên, chính vì không có sự hiện diện của những “ma sát với cuộc sống” mà ngôn ngữ triết học trở thành vô dụng và không giải quyết được bất kỳ vấn đề nào. Ông mô tả ngôn ngữ triết học như “những bánh xe không thể quay,” “ngôn ngữ đi nghỉ mát,” hoặc “một vật dụng chỉ dùng để trang trí” (“idle wheels,” “language that goes on holiday,” a mere “ornament”). Để giải quyết những vấn đề do ngôn ngữ triết học gây ra, theo ông, các triết gia cần rời bỏ vùng băng trơn không ma sát và quay lại vùng đất xù xì (rough ground) của ngôn ngữ cuộc sống hàng ngày.

Nói cách khác, Wittgenstein muốn chứng minh cho thấy các triết gia đã sai lầm ngay từ ban đầu khi nêu lên các vấn đề phức tạp trong triết học bằng cách không sử dụng ngôn ngữ cuộc sống hàng ngày. Thay vì hoài công đi tìm câu trả lời cho các câu hỏi triết học, theo Wittgenstein ta chỉ cần ý thức rằng chúng là hệ quả của việc sử dụng ngôn ngữ không có độ ma sát và gạt bỏ ngôn ngữ này ra khỏi lĩnh vực triết học. Điều thú vị trong giải pháp ông đưa ra là một khi đã vứt bỏ “ngôn ngữ đi nghỉ mát” thì tất cả những vấn đề triết học về sự sống-cái chết, thượng đế-con người, vật chất-ý thức, v.v. cũng tự nhiên biến mất. Ông viết: “the clarity we are aiming at is indeed complete clarity. But this simply means that the philosophical problems should completely disappear.”

Các nhà triết học loay hoay tìm cách giải quyết những câu hỏi triết học muôn thuở được ông ví như những con ruồi bay loanh quanh trong một cái chai và không tìm thấy đường ra. Cái chai ở đây chính là hệ thống khép kín của những khái niệm triết học, dùng chính nó làm hệ quy chiếu (self-referential system of thought). Wittgenstein tự giao cho mình trách nhiệm chỉ đường cho chú ruồi thoát khỏi cái chai (“shew the fly the way out of the fly-bottle”). Dĩ nhiên, cách đơn giản nhất để thoát khỏi cái chai là đập bể nó.

Để bạn có thể thấy rõ tầm quan trọng của bối cảnh đối với việc sử dụng ngôn ngữ và sự vô ích của việc dùng ngôn ngữ để giải quyết những vấn đề do ngôn ngữ tạo ra, tôi thử lấy một ví dụ đơn giản trong cuộc sống như sau. Hai chữ “đi bơi” trong tiếng Việt có lẽ ai cũng hiểu nhưng không phải ai cũng hiểu giống nhau vì ý nghĩa của nó phụ thuộc vào bối cảnh cuộc sống của người sử dụng. Một đứa trẻ sống ở thành phố sẽ hiểu đó là đi đến hồ bơi Kỳ Hòa hay một hồ bơi nào đó, vô phòng thay đồ, cởi đồ tây, mặc đồ bơi, đeo kiếng bơi vào (nếu có), đi cất đồ, đi tắm vòi nước trước khi bơi, và sau đó nhảy xuống hồ. Một đứa trẻ sống ở một vùng nông thôn cạnh một con sông sẽ hiểu “đi bơi” đơn giản là chiều chiều cởi trần đi ra sông, nhảy xuống sông tắm. Chấm hết. Đối với một đứa trẻ sống ở thành phố cũng như đứa trẻ sống ở nông thôn, cả hai đều hiểu “đi bơi” là gì mà không cần phải có người giải thích dài dòng. Nhưng nếu có một nhà triết học rảnh rỗi muốn đưa ra một định nghĩa hoàn hảo để giúp bất cứ ai cũng có thể hiểu được đi bơi là gì mà không cần phải đề cập đến những chi tiết dung tục, tầm thường của cuộc sống hàng ngày như cởi quần, cởi áo, hay cởi trần thì bạn có thể hình dung được sự rối rắm, phức tạp không cần thiết của những ngôn ngữ, khái niệm chung chung, trừu tượng mà ông/bà ta phải dùng để giải quyết câu hỏi nêu trên. Mà cũng chưa chắc đã giải quyết được vấn đề cho trọn vẹn. Thay câu hỏi “đi bơi là gì?” bằng câu hỏi “hạnh phúc là gì?” thì bạn có thể tưởng tượng được mức độ rối rắm, phức tạp sẽ gia tăng lên bao nhiêu lần.

~.~.~

Bối cảnh cụ thể của cuộc sống do đó đóng một vai trò quyết định trong việc hiểu và sử dụng đúng ngôn ngữ. Ví dụ như ta chỉ có thể hiểu đúng khái niệm “đi học” trong tiếng Việt nếu dùng nền văn hóa và bối cảnh cuộc sống Việt Nam làm hệ quy chiếu. Khi dịch khái niệm “đi học” sang hệ quy chiếu của Mỹ thành “go to school” để người Mỹ hiểu, thì hơn 50% ý nghĩa của nó đã bị thay đổi. Khi dịch khái niệm “hiếu thảo” sang tiếng Anh thành “filial piety,” theo tôi đoán nó đã mất đi 90% ý nghĩa gốc trong tiếng Việt và hơn 90% dân Mỹ chỉ có một khái niệm lờ mờ “filial piety” có ý nghĩa gì trong tiếng Anh và bao hàm những hành động, bổn phận gì của người con đối với cha mẹ. Sự khác biệt giữa hai hệ quy chiếu càng lớn thì khả năng để các thành viên hai bên có thể hiểu nhau càng nhỏ. Wittgenstein cho rằng “Nếu một con sư tử biết nói [tiếng Anh hay bất thứ tiếng nào khác], thì ta cũng không thể nào hiểu được ý nó muốn nói gì,” vì hệ quy chiếu của người và vật quá khác nhau.

Ngôn ngữ và văn hóa của một nước do đó cũng là một hệ thống tư duy khép kín dùng chính nó làm hệ quy chiếu. Chúng có vai trò không khác gì một cái chai giam hãm cách tư duy và phạm vi lựa chọn hành động của chúng ta. Những gì ta được phép và không được phép làm trong một nền văn hóa tạo thành một đường biên bao quanh tư duy của ta. Giống như ví dụ về quả trứng của Columbus, nếu như Columbus đã đập bể một đầu quả trứng để nó có thể đứng được, thì chúng ta cũng cần đập bể những khái niệm cứng nhắc trong văn hóa Việt Nam để mở rộng tầm nhìn và sự hiểu biết. Chẳng hạn, trong thời đại của internet, sách báo, phim ảnh nước ngoài tràn lan, khái niệm “không thầy đố mày làm nên” không còn giá trị tuyệt đối như trước. Giờ đây hệ thống giáo dục Việt Nam cần khuyến khích và cho phép học trò Việt Nam được tự do tìm tòi, suy nghĩ, nêu thắc mắc và tự học nhiều hơn là bám cứng vào lối học vẹt, học từ chương. Khá nhiều vấn đề phức tạp trong xã hội hiện đại, cả ở Việt nam lẫn phương Tây, sẽ trở thành đơn giản và dễ giải quyết hơn nếu con người có thể đập bể cái chai đang giam hãm tư duy của họ. Tuy nhiên, việc đập bể cái chai không dễ thực hiện và có thể bị gán ghép cho là một hành vi nguy hiểm cho xã hội. Đơn giản hơn, bạn chỉ cần học cách đi qua đi lại giữa những cái chai khác nhau. Số chai bạn có thể di chuyển qua lại càng nhiều, khả năng tư duy và phạm vi tự do lựa chọn của bạn càng lớn.

Cách đây 2 năm, lúc đang viết luận văn thạc sĩ của mình về đề tài chủ nghĩa cá nhân ở Mỹ và Việt Nam, tôi mô tả tệ nạn hối lộ, tham nhũng như là một vấn đề về đạo đức. Ông thầy hướng dẫn nhận xét, không nên xem chúng như là một vấn đề thiếu sót về đạo đức và tìm cách giải quyết bằng cách cổ vũ rèn luyện, nâng cao đạo đức. Hối lộ và tham nhũng tồn tại ở mọi nước, trong mọi hệ thống chính trị. Điều quan trọng là phải thiết lập các cơ chế và thể chế thích hợp để giới hạn tệ nạn hối lộ và tham nhũng. Đó là lần đầu tiên tôi được biết ta có thể giải quyết những hành vi vô đạo đức như tham nhũng và ăn hối lộ không phải bằng cách đào tạo cho xã hội những công dân có đạo đức mà bằng cách thiết lập các cơ chế để ngăn ngừa và trừng phạt các cá nhân thực hiện hành vi vô đạo đức. Sau buổi nói chuyện hôm đó tôi có cảm giác như ông thầy đã nắm tóc, kéo đầu tôi ra khỏi cái chai “Văn hoá Khổng giáo Việt Nam” sang một cái chai “văn hoá Mỹ - Châu Âu” để tôi có dịp làm quen với một lối tư duy mới. [Nghĩ lại, thấy may mắn là mình đã không mím môi, mím lợi, cố bám tay, đạp chân vào thành chai để được rơi tọt trở lại môi trường đáy chai quen thuộc.] Ngược lại, tôi đoán ông thầy hướng dẫn của mình trong thời gian sống ở Hàn Quốc cũng đã từng bị người khác nắm tóc, kéo đầu lôi ra khỏi cái chai “Mỹ-châu Âu” để học hỏi những cái hay trong cái chai “văn hóa Khổng giáo Hàn Quốc.”

Dĩ nhiên, sau khi sống trong cái chai “Khổng giáo Việt Nam” hơn 30 năm và đã quá quen thuộc với môi trường trong đó, tôi không thể nào rời bỏ hẳn nó để chuyển sang sống trong một cái chai nào khác. Nhưng từ đó đến giờ tôi vẫn cố gắng đi qua đi lại giữa hai cái chai. Vẫn cố tìm tòi xem bên trong cái chai “văn hoá Mỹ - Châu Âu” có gì đẹp và hay, có gì đáng học hỏi để đem về áp dụng trong cái chai văn hóa Việt Nam. Như tôi đã có dịp trình bày, tôi không bác bỏ rèn luyện đạo đức. Xã hội và con người không thể tồn tại nếu không có đạo đức. Việt Nam có thể kết hợp cả hai đặc điểm rèn luyện đạo đức và thiết lập luật pháp nghiêm minh, chứ không nhất thiết chỉ chú trọng rèn luyện đạo đức mà bỏ qua việc phát triển hệ thống luật pháp như hiện nay, hoặc phụ thuộc quá nhiều vào bàn tay sắt của luật pháp mà sao lãng việc rèn luyện đạo đức con người như trong xã hội Mỹ. Một xã hội tốt đẹp đến mức hoàn hảo là xã hội tiếp thu và trộn lẫn những gì tinh túy nhất của phương đông và phương tây thành một tổng thể hợp nhất. Văn minh châu Âu không thể có được ngày hôm nay nếu không có sự đóng góp của các nền văn minh Trung Quốc, Hy Lạp, Hồi Giáo, Ấn Độ, văn minh người da đỏ Nam Mỹ, v.v. Văn minh nhân loại là như vậy. Nó kế thừa và vay mượn lẫn nhau, giao thoa với nhau. Tất cả chúng ta đều bơi trong cùng một đại dương. Những luồn chảy văn hóa khác nhau giúp cho biển văn hóa của nhân loại không bị ứ đọng và tù hãm. Nơi nào có những luồn văn hóa gặp gỡ và giao thoa, nơi đó có môi trường sống sinh tươi, đa dạng và phong phú. Ta cần học cách di chuyển giữa những chiếc chai!

Sunday, December 10, 2006

Things I don't know about Viet Nam_and things they don't know about America

Thomas Friedman, [3 lần đoạt giải thưởng Pulitzer Prize dành cho phóng viên báo chí, và hiện đang là một trong những người phụ trách chuyên mục xã luận-phê bình của tờ New York Times], đã có lần đến Việt Nam. Một vài sự kiện Friedman tận mắt chứng kiến ở Việt Nam đã được đưa vào cuốn “The Lexus and the Olive Tree” [đoạt giải thưởng Overseas Press Club năm 2000 dành cho tác phẩm nonfiction viết về chính sách đối ngoại và đã được dịch sang 27 thứ tiếng] để minh họa cho một vài luận điểm của mình.

Ở đây tôi không có ý định điểm qua nội dung cuốn sách, chỉ muốn bình luận đôi chút về cách Friedman hiểu và diễn giải về sự kiện ông ta mắt thấy, tai nghe khi còn ở Hà Nội, và dựa vào đó đặt ra một câu hỏi hy vọng sẽ có người giải thích dùm.

Friedman đặt chân đến Hà Nội vào năm 1995, tôi không rõ vì mục đích gì vì ông ta không đưa ra lời giải thích trong sách. Cứ mỗi buổi sáng, Friedman lại thích đi bộ vòng quanh hồ [chắc là hồ Hoàn Kiếm] để tập thể dục. Và mỗi sánh như vậy ông ta lại dừng chân đưa 1 đôla [chắc ý ông ta là cho 10-15,000 VND] cho một bà cụ ngồi bên vệ đường với một cái cân. Dĩ nhiên ông ta biết rõ trọng lượng của mình là bao nhiêu và không cần sáng nào cũng phải kiểm tra lại trọng lượng của mình, trừ phi ông cho rằng đồ ăn Việt Nam quá nhiều chất béo, mỗi buổi ăn có thể làm gia tăng trọng lượng thêm vài pound. Ông ta giải thích “làm ăn với bà cụ [đứng lên cân, xong trả tiền] là cách để tôi góp phần giúp thúc đẩy toàn cầu hóa [gia tăng thương mại quốc tế] ở Việt Nam.” [1]

Khi nhìn thấy bà cụ ngồi “làm ăn mua bán” với chiếc cân, ông diễn giải động cơ của bà cụ là vì muốn tham gia vào thế giới doanh nhân năng động.[2] Đối với ông ta, bà cụ là hiện thân của khẩu hiệu không ai nói ra nhưng trong đầu ai cũng có: “Bất cứ món gì bạn có – to hay nhỏ không quan trọng – hãy bán nó, trao đổi nó, cho vay nó, cầm cố nó, thế chấp nó, dùng nó vào một mục đích gì đó để kiếm lời, để nâng cao mức sống và tham gia vào trò chơi mua bán kiếm lời.”[3]

Ông Friedman đúng là người thật sâu sắc. Vào cái thời còn là học sinh cấp 2, 3 tôi cũng đã gặp nhiều ông, bà cụ ngồi dọc đường Đồng Khởi và quanh khu vực quận nhất với một cái cân, nhưng cảm giác của tôi và Friedman khác xa nhau. Friedman thì lạc quan trước hình ảnh bà cụ ngồi bên hè với chiếc cân, vì bà thể hiện máu doanh nhân năng động. Tôi chưa bao giờ biết được các cụ nhà ta lại có máu kinh doanh dữ vậy, nên những lúc gặp những ảnh đó tôi chỉ biết buồn. Trong đời học sinh tôi cũng vài lần (ít nhất là nhiều hơn 1 lần) đưa tiền cho một ông cụ ngồi cạnh chiếc cân, nhưng tôi không thấy cần phải giả vờ đứng lên trên chiếc cân làm gì.

Tôi tự hỏi không biết cách nhìn của Friedman về người Việt Nam có chính xác như ấn tượng của Luật sư Châu về nước Mỹ? Tôi đoán Friedman ở Việt Nam cao lắm là vài tuần và cao lắm chỉ biết lõm bõm vài câu tiếng Việt. Trong khi đó LS Châu ở Mỹ những 6 tháng và trình độ tiếng Anh thì tôi không dám có chút nghi ngờ!

Tuy vậy, tôi không biết LS Châu có biết gì về những con số thống kê dưới đây về một nước Mỹ đầy bông hồng đẹp không?

- Nước Mỹ có GDP ngang bằng sức mua cao nhất thế giới.

- Chi tiêu quân sự của chính phủ Mỹ cao hơn gấp 10 lần chi tiêu quân sự của các quốc gia công nghiệp hóa châu Âu như Anh, Pháp, Đức, Ý, và cao hơn chi tiêu quân sự của Nhật gấp 9 lần. Chỉ một mình nước Mỹ không thôi, chi tiêu dành cho quân sự chiếm 47% tổng chi tiêu quân sự của toàn thế giới trong năm 2003.

- Chi tiêu quân sự của chính phủ Mỹ nhiều hơn gấp 29 lần tổng chi tiêu quân sự của 7 quốc gia mà chính phủ Mỹ gọi là các quốc gia “du đảng” (“rogue” states) như Cuba, Iran, Iraq, Libya, North Korea, Sudan and Syria.

Ấy thế mà:

- Theo thống kê năm 1997, chi tiêu của chính phủ Mỹ dành cho các chương trình phúc lợi xã hội tính theo phần trăm GDP là thấp nhất trong số các quốc gia công nghiệp hóa châu Âu, thấp hơn chi tiêu của Pháp là 16% và thấp hơn Thụy Sĩ là 17%.

- Khác với các quốc gia công nghiệp hóa châu Âu, Mỹ không có chương trình chăm sóc y tế hay bảo hiểm ý tế miễn phí cho người dân. 42 triệu người Mỹ không có bảo hiểm và thêm 29 triệu người nữa không có bảo hiểm toàn phần (underinsurance).

- Mỹ có tỉ lệ tử vong trẻ sơ sinh cao nhất trong số các quốc gia đã phát triển (cao hơn cả Cuba), và có tỉ lệ trẻ tử vong dưới 5 tuổi cao thứ 26 trên thế giới.

- Nước Mỹ có tỉ lệ trẻ em nghèo cao nhất trong số các quốc gia công nghiệp hóa: 21.5%.

- Mỹ có tỉ lệ giết người (tính theo phần ngàn) là cao nhất trong các quốc gia đã phát triển, và đứng hàng thứ 6 trên thế giới về tổng số các vụ giết người.

- Theo thống kê 1998-2000, Mỹ có tổng số vụ cướp (robberies) cao thứ nhì trên thế giới và tổng số vụ cưỡng hiếp cao nhất thế giới.

- Ở Mỹ, cứ 6 phút là có một phụ nữ bị vi phạm tình dục (rape); cứ 15 giây là có một phụ nữ bị đánh đập (battered). Cứ 5 phụ nữ Mỹ thì có một đã từng là nạn nhân của trò “thượng cẳng chân, hạ cẳng tay” (physical assault) của người bạn tình. Cứ 2 phụ nữ Mỹ thì có một đã từng là nạn nhân của bạo lực chân tay khi còn nhỏ hoặc/và khi đã lớn. Ước tính hàng năm có 1.9 triệu phụ nữ Mỹ là nạn nhân của bạo lực.

- Mỹ là nước có mức chênh lệch giàu nghèo cao nhất trong số các quốc gia đã phát triển: 1% người giàu nhất nước Mỹ nắm giữ một lượng tài sản bằng 95% dân số Mỹ từ cuối bảng xếp hạng tài sản đếm lên.

- Trong một thời gian dài, Nga là quốc gia có số tù nhân cao nhất thế giới, Mỹ chỉ đứng vị trí thứ nhì. Kể từ năm 2001 đến nay, Mỹ trở thành quốc gia có tỉ lệ tù nhân đứng đầu thế giới. Với dân số chỉ chiếm 5% tổng dân số thế giới nhưng 25% số tù nhân trên thế giới là nằm ở Mỹ (2 triệu tù nhân Mỹ trên tổng số 9 triệu tù nhân toàn thế giới)

- Mặc dù người da đen chỉ chiếm 12% dân Mỹ, nhưng gần 50% tù nhân ở Mỹ là người da đen

- Hai triệu trẻ em Mỹ có một hoặc cả bố lẫn mẹ đang sống sau chấn song nhà tù. Mười triệu trẻ em Mỹ có ít nhất bố hoặc mẹ đã từng ngồi tù.

Câu hỏi tôi đang cố tìm lời giải đáp: Mô hình tổ chức chính trị - xã hội Mỹ đóng góp được gì cho nỗ lực tìm
kiếm của nhân loại để có được cuộc sống bình an, hạnh phúc?
Nguồn:
http://www.nationmaster.com/cat/cri-crime
https://www.cia.gov/cia/publications/factbook/docs/rankorderguide.html 
http://www.ncjrs.gov/txtfiles1/nij/183781.txt 
http://www.ywca.org/site/pp.asp?c=djISI6PIKpG&b=281418 
(và những tài liệu khác đã đọc trong các khóa học nhưng vì lười nên tôi không tìm kiếm trích ra đây.)


[1] doing business with that lady was my contribution to the globalization in Vietnam, 348

[2] offering up her bathroom scale as her ticket to the Fast World, 349

[3] her unspoken motto was “Whatever you’ve got, no matter how big or small – sell it, trade it, barter it, leverage it, rent it, but do something with it to turn a profit, improve your standard of living and get into the game,” 349